Chào mừng bạn đến với website Họ Hoàng
Email In PDF.

Nhà báo MAI LỸNH

Nhà báo Mai Lỹnh là Hoàng Hữu Ly. Đời thứ 15 Họ Hoàng Bích Khê. Sinh năm 1945. Con của Ông Hoàng Hữu Nam hy sinh 1947 và bà Võ Thị Yêm hy sinh 1964. Có 4 anh em gồm Hoàng Hữu Quýnh, Hoàng Kiều, Hoàng Hữu Ly và Hoàng Thị Bích Oanh. Được Bộ Văn hóa Thông Tin cấp thẻ nhà báo khi làm Trưởng Ban Kinh Tế Công Thương Báo Tin Sáng (1975-1980).

Đọc thêm...
Email In PDF.

Cha tôi
HOÀNG HỮU NAM

Đọc trang web Hoàng Tộc Bích Khê, tôi cảm thấy có một sự thiếu sót nào đó. Cha tôi Hoàng Hữu Nam, đời 14 Hoàng Tộc Bích Khê. Con thứ 19 của cụ Thái Thường Tự Khanh Hoàng Hữu Bĩnh (đời 13) và Bà Trần Thị Phiến. Hy sinh khoảng ngày rằm tháng bảy âm lịch. Năm ấy là 1947. Nói là hy sinh, bởi cha tôi theo Việt Minh bị giặc thủ tiêu. Hơn 50 năm sau, một nhà ngoại cảm chỉ cho em tôi lấy cốt. Chỉ thử ADN là biết chắc chắn. Nhưng chúng tôi không dám. Vì nếu như không phải thì tính làm sao đây. Điều này, cho đến nay 2014, đã hơn 20 năm bốc mộ về nghĩa trang của gia đình, chúng tôi vẫn một lòng.tin rằng đó là cha chúng tôi.

Đọc thêm...
Email In PDF.

NHÌN LẠI TỘC PHỔ
(từ đời 1 đến đời 11)

THƯỢNG THỦY TỔ HOÀNG CÔNG HỘI

Sanh Công Hiệp vô hậu, Công Chính

  • Đời 2: Công Chính. Dòng thứ. Có 2 trai: Công Thất, Công Ca.
  • Đời 3: Công Ca. Dòng thứ. Sanh 5 trai: Thanh Côn, Thanh Lan, Thanh Vi, Thanh Xuân, Văn Công.
  • Đời 4: Thanh Xuân. Dòng thứ. Có 2 trai: Trưởng khuyết danh, Văn Bổng.
  • Đời 5: Văn Bổng. Có 3 trai: Văn Độ, Văn Ân, Văn Lược.
  • Đời 6: Văn Độ. Dòng trưởng. Kỵ 12/8. Sanh 6 trai: Văn Tổng, Văn Điện, Văn Định, Văn Thiệp, Văn Lập, Văn Đường.
  • Đời 7: Văn Tổng. Dòng trưởng. Kỵ 22/11. Có 7 trai: Văn Trọng, Văn Hàn, Văn Hiền, Văn Hoạch, Văn Sách, Văn Tôn, Văn Tấn và 3 gái...
  • Đời 8: Văn Hoạch. Dòng thứ. Kỵ 13/1. Thọ 55 tuổi. Được một trai duy nhất là Văn Núi và 4 gái...
  • Đời 9: Văn Núi. Sanh 20/4 Nhâm Dần, mất 26/8 Ất Mùi. Sanh 2 trai: Văn Giao, Văn Tuyển và 3 gái...

Ông tổ đời thứ mười Hoàng Văn Giao có tên là Đá, nguyên tên là Hạo (phải đổi tên vì phạm quốc húy), là dòng trưởng của ông Văn Núi. Chân nho học, làm chức ký lục ở Ngân cục (đúc vàng bạc), được cáo tặng Triều liệt đại phu Hàn Lâm viện thị giảng học sĩ, thụy Đoan Lượng. Kỵ ngày 24 tháng Một (11).

Bà tên húy Thị Kế là con gái ông Võ Đại Yến quê ở Minh Hương, Quảng Đức, tức là Thừa Phủ bây giờ, được cáo tặng tùng tứ phẩm Cung nhân. Kỵ 7/5. Sanh hạ 2 trai là Hữu Trí, Hữu Tư và 4 gái... thuộc đời thứ 11 Phái Nhất.

Dòng trưởng: Hữu Trí (1782 - 1845) đứng đầu Phát Nhất. Kỵ 4/4. Bà tên húy Thị Thủ (1787 - 1847) là con gái Trinh Tường Hầu Đỗ Đình Chiêm người làng. Kỵ 2/2. Sanh đặng 4 trai: Hữu Huệ có tên là Xương, Hữu Xưởng, Hữu Cẩm có tên là Diệu, Hữu Đạo mất sớm, và một gái Thị Dung (đời 12).

Dòng thứ: Hữu Tư húy Cuộc. Thông nho học, chữ viết rất tốt. Mất năm Mậu Dần (1818). Kỵ 25/9, được cáo tặng Trung nghị đại phu Thái bộc tự khanh, thụy Ôn Tịnh.

Bà tên húy Thị Thừa, họ Đỗ, là con đầu Phó vệ úy Cẩn Ngọc Hầu. Sanh năm Kỷ Dậu. Kỵ 1/1, được cáo tặng tùng tam phẩm Thục nhân. Sanh hạ 4 trai: Hữu Lợi, Hữu Oai, Hữu Công, Hữu Lội, và 1 gái là Thị Mãnh (đời 12)

 (Trích XƯƠNG KHÊ HOÀNG TỘC THỐNG PHỔ)


Bia mộ các Ngài HOÀNG HỮU TƯ (đời 11) và HOÀNG HỮU LỢI (đời 12)
Email In PDF.

NGÀI HOÀNG HỮU LỢI
(Đời 12)

(Con trưởng của Cụ Hoàng Hữu Tư và bà Đỗ Thị Thừa)
Tự: Hòa Nghĩa - Hiệu: Ngu hồ tiên sinh
Sinh: 24 tháng 12 Kỷ Tỵ (1809)
Mất: 26 tháng 3 năm Bính Tý (1876) Thọ 68 tuổi.
Mộ: khuôn viên quy táng ở Nương âm.

Từ nhỏ rất thông minh và hiếu nghĩa. Khi thân phụ là Cụ Hoàng Hữu Tư ra trấn Hưng An để thăm nhạc phụ họ Đỗ là Trì Oai tướng quân, thì có một đêm cụ Hữu Lợi ở nhà vùng dậy khóc, mẹ dỗ không nín chỉ nói lo quá nên khóc. Sau được tin Cụ Hữu Tư chính đêm ấy bị bệnh mất tại tư dinh của nhạc phụ. Cụ Hữu Lợi thường chăm lo đọc sách, dự thi Hương nhiều lần nhưng không đỗ vì văn cách quá phóng khoáng. Khoa thi Hương năm Nhâm Tý (1852) cụ và con trưởng là Hoàng Hữu Xứng đều dự thi. Cụ nằm mộng 2 câu đối: Hải ốc thiêm trù hoa chánh mậu. Cẩm đường lệ nhật quế sanh hương (Sẽ được tuổi thọ và hoa nở tốt đẹp, ngồi nhà lớn gấm vóc giàu sang, ngày vui đến có cây quế thơm hương). Quả nhiên kỳ thi ấy tuy cụ không đỗ vì phạm trường qui nhưng con trưởng cụ là Hoàng Hữu Xứng đỗ cử nhân. Cụ tự bảo: “Ta muốn được xuôi gió để đền đáp ơn tiên chỉ và để cởi mở sự lầm lẫn của người làng, nay thân ta tuy không đạt nhưng con ta lại được là thỏa nguyện rồi”. Từ đấy cụ không đi thi nữa sống cuộc đời bạn với gió trăng, thơ rượu.

Tánh tình cụ ngay thẳng mà nhân hậu, rất ghét những lời ồn tạp, chỉ thích nghe tiếng bình văn. Khách đến nói chuyện văn chương thì ngồi suốt ngày không mệt mỏi, rất thương bạn bè. Tuy nhà không dư dật, nhưng thấy ai có việc gì cần gấp là giúp đỡ ngay. Chôn hoang mộ, lập nghĩa trang, mỗi năm 2 lần tế. Cụ thích cảnh đẹp núi sông, cây cỏ và tranh vẽ. Khi làm nhà thờ chi ở làng, chính cụ vẽ trên rui, kèo cho thợ chạm, ở trước nhà, cụ có đắp núi, đào hồ, lập cảnh non bộ, nuôi cá, trồng hoa. Có câu đối chơi non bộ: “Đã chịu một thân trời đất nhỏ. Phải gầy ít thế núi sông con” (lấy câu chữ nho: nhân sinh tiểu thiên địa). Cụ có làm bài thơ ngụ ngôn 100 vận. Ở trước nhà có viết 2 chữ “Vu môn” lấy ở câu trong kinh Dịch: “Đông nhân Vu môn” để tỏ sự hâm mộ đối với ông Vu Công đời Hán. Ngoài cửa ngõ lại có 2 câu đối chữ Nôm: “Giáo đứng hai hàng tre trước ngõ; Cờ bay trăm lá, chuối sau nương”. Hai câu này tuy tả cảnh thực trong vườn: tre và chuối nhưng lại biểu lộ cái khẩu khí của bậc công hầu: Giáo và cờ. Có giai thoại như sau: Ông Tú Tài tên là Hào ở làng Vũ Thuận đến chơi, cụ ra câu đối: “Nam nhi đáo xứ thị Hào” Ông Tú Hào đã biết tánh cụ là đối lại phải khiêu khích nên đọc: “Nhân nghĩa vị thường bất Lợi” sợ cụ nổi giận nên bỏ chạy, nhưng cụ chạy theo mời vào đối ẩm, đàm đạo. Gia đình cụ rất nghiêm nghị. Anh em, con cháu phải giữ đúng hiếu để. Khi mất cụ được cáo tặng Trung nghị Đại phu Đô sát viện Phó đô ngự sử thụy Trang Khải.

Bà chánh thất là Lê Thị Hơn người làng Cổ Thành, sinh ngày 16 tháng 6 Canh Ngọ (1810) người chất phác, ngay thẳng, thông minh, biết chữ Hán. Nhà nghèo bà phải lo chạy ăn để nuôi chồng và dạy con học hành rất cực khổ. Bà hay thi ân, thấy bà con hàng xóm nghèo khổ hết sức giúp đỡ, đối với học trò nghèo và kẻ mồ côi lại càng giúp đỡ nhiều hơn nữa. Về già, bà theo đạo Phật, cắt tóc, lần chuỗi, tụng kinh. Bà mất ngày 24 tháng 7 Bính Tuất (1886). Vì lúc ấy bà ở tại Huế với con nên táng ở làng Vinh Quang, nay đã đưa về nơi quy táng ở Nương Âm trong làng nằm cạnh ông. Bà được phong tặng Nhị phẩm Đoan nhơn.

Thứ thất là bà Hồ Thị Giá, người làng Võ Thuận. Bà cũng là người đoan trang, hiền hậu, kính trên nhường dưới, góp phần xây dựng gia đình tốt đẹp, nuôi dạy con cái. Bà mất ngày 22 tháng 11 Bính Ngọ (1906) được phong Tứ phẩm cung nhân.

Con: Các cụ sinh được: 5 trai và 7 gái nhưng chi đăng thế được 4 trai - 3 gái.

1. Hoàng Hữu Xứng      2. Hoàng Thị Thân               3. Hoàng Hữu Nung            4. Hoàng Hữu Tuệ         5. Hoàng Thị Chanh            6. Hoàng Hữu Bính              7. Hoàng Thị Bòng

Huynh đệ thức tương hảo hỷ
Tử tôn vật thế dẩn chi
(Trích THỐNG PHỔ CHÍNH BIÊN)
Email In PDF.

NGÀI HOÀNG HỮU LỢI
VÀ NHỮNG LỜI NGHIÊM HUẤN ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU

(Trích bài nói chuyện của ông Hoàng Hữu Lạc với bà con đời 15, 16, 17, 18 trong ngày giỗ lần thứ 116
của Ngài TRUNG NGHỊ ĐẠI PHU ĐÔ SÁT VIÊN, PHÓ ĐÔ NGỰ SỬ HOÀNG HỮU LỢI (đời 12)
26/3 Nhâm Thân (28.4.92).
Tại nhà cháu Hoàng Hữu Chỉ, đời 16, ở Khu Lương Y Thành Nội Huế).

 Trong dịp lễ giỗ hôm nay, tôi xin trình bày với bà con một số tư tưởng nền tảng của dòng dõi họ Hoàng.

Chính ngài Hoàng Hữu Lợi đời 12 mà chúng ta tổ chức lễ giỗ hôm nay (26.3 Âm lịch) là người đã đặt những viên đá đầu tiên để xác lập nền tảng ấy.

Ngược dòng lịch sử, qua sơ đồ gia phả và tài liệu, chúng ta thấy họ Hoàng chúng ta từ đời 1 đến đời 10, đời nào cũng chỉ lẻ tẻ một vài vị, nhân số thưa thớt, học hành cũng thường, nhưng từ đời 12 trở đi con cháu mới sum sê là nhờ ý thức vươn lên.

Có giai thoại: Vào thời ngài đời 12, có ông thầy tướng đi ngang qua làng Bích Khê bảo: Đất này không có văn mạch. Ngài đời 12 cho là thầy tướng nói nhầm, bèn tập trung con cháu lại cố sức học, với tư tưởng khuyến học như sau:

“Hoàng gia vô đinh bạch, khê thủy hữu giáp hoàng”

Có nghĩa là con cháu họ Hoàng phải học, để không có một người nào là “bạch đinh” là dân hạng bét của xã hội, ra làng phải bưng mâm, pha nước. Làm sao cho làng Bích Khê có “Hoàng giáp” là đậu đầu khoa thi tiến sĩ, vì lúc bấy giờ đã bãi bỏ học vị trạng nguyên; thì rõ ràng, sau một thời gian Ngài cùng học, cùng đi thi với con là Hoàng Hữu Xứng và tiếp đến cháu nội ngài là Hoàng Hữu Bính đều đỗ đại khoa. Có một lúc, cùng một gia đình, mà cha con, anh em, chú cháu, ông cháu đều đỗ đại khoa mà sách vở còn lưu danh. Ngày xưa ra làng ngồi theo ngôi thứ, theo thứ tự đẳng cấp trong xã hội thì những vị trí từ thứ nhất: Tiên chỉ, Thứ chỉ, Thứ thứ chỉ đến 20 đều là trai họ Hoàng.

Các Ngài lại đề ra tinh thần “Hiếu thảo” bằng tư tưởng:

“Văn chương diệc thị tầm thường sự Trung hiếu tu vi nhất đẳng nhơn”

Vì các ngài thấy việc học hành cố gắng thì cũng dễ đạt cho nên mới nói:

“Văn chương cũng là chuyện tầm thường. Chỉ có trau dồi hai chữ Trung Hiếu mới tạo cho con người phẩm chất cao quí nhất! Truyền thống “hiếu thảo” của tất cả con cháu đang thể hiện hôm nay hẳn đã xuất phát từ những điều này.

Sau hai tư tưởng “khuyến học”, “hiếu thảo” các ngài còn hướng dẫn con cháu cách đối xử với nhau qua tư tưởng:

“Huynh đệ thức tương hảo hỷ, tử tôn vật thế dẫn chi”

Có nghĩa là: Anh em phải biết cư xử. Dù có chuyện bất đồng trong tranh luận, hoặc ngay trong chính kiến, nhưng rốt cuộc cũng phải giữ cho được hòa khí. Đối với con cháu chớ quên việc hướng dẫn, dạy bảo, giáo dục con cháu là trách nhiệm của chúng ta, của các bậc làm cha mẹ; con chưa tốt, chưa giỏi, chưa hiếu thảo là do ta thiếu hướng dẫn, dạy bảo.

Và tiếp theo các ngài khuyên con cháu giữ cho được tinh thần “thanh bạch” trong cuộc sống. Vì dòng dõi chúng ta, tuy nhiều đời làm quan mà vẫn giữ được thanh liêm, vẫn nghèo nên có câu:

“Tri túc tâm thường lạc, vô cầu phẩm tự cao”.

Nghĩa là chúng ta nên bằng lòng với hiện tại, đừng quá bon chen, ở cảnh nào cũng tạm cho là đủ thì lòng sẽ được vui, không cầu nài, thì phẩm giá mới cao.

Trên đây là các tư tưởng, gương sáng về lập chí, làm nên sự nghiệp, răn dạy hậu thế của tổ tiên Hoàng Hữu chúng ta. Chúng ta đều phải suy gẫm, tự rút ra kết luận thích đáng cho cuộc đời mình, cho gia đình, con cháu, để giữ được truyền thống của dòng họ. Hãy ghi nhớ lời Tổ huấn.

HOÀNG HỮU LẠC (Đời 14)

Email In PDF.

NGÀI HOÀNG HỮU XỨNG
(ĐỜI 13)

 (Con trưởng cụ Hoàng Hữu Lợi và bà Lê Thị Hơn)
Tự: Bình Như ; hiệu: Song Bích
Sinh: 13 tháng 11 Tân Mão (1831)
Mất: 3 tháng 12 Ất Tỵ (1905) Thọ 75 tuổi.
Mộ: Khuôn viên qui táng ở Nương Âm.

Gia đình theo nho học mà thanh bần. Khoa thi Hương năm Nhâm Tý (1852). Đỗ Cử nhân thứ 9.

Năm 1860: Sơ bổ Huấn đạo huyện Tuy Viễn (Bình Định)

Năm sau nhậm chức Tri huyện Hà Đông (Quảng Nam).

Do học lực uyên thâm, Vua Tự Đức đã phê: Hữu Xứng là “tuấn mã trong hàng cử nhân”. Cụ thường dự chấm các khoa thi Hương, thi Hội. Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1882), Cụ giữ chức Tuần phủ thành Hà Nội. Khi quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, án sát và lãnh binh bỏ trốn, một mình cụ - một quan văn, phải chống lại với giặc. Sau cụ bị quân Pháp bắt và cụ tuyệt thực. Vua Tự Đức sai khâm mạng Trần Đình Túc ra ký hòa ước và bắt cụ phải chấm dứt thuyệt thực về Huế đợi lệnh triều đình. Cụ bị cách chức hoàn toàn, đày đi Sơn Phòng, huyện Cam Lộ. Ở điểm này, nhiều sách vì dựa theo bài thơ Hà thành chính khí ca nên đã ghi chép, nhận xét không đúng về cụ.

Năm Kiến Phúc I (1884), cụ được khôi phục Hàn lâm Viện và thăng dần. Năm Đồng khánh I (1886) cụ thăng Quan Lộc tự khanh lãnh Hữu thị lang Bộ Lại kiêm Quản ấn triện ở viện Đô Sát sung Toản Tu Sử quán. Vua Đồng Khánh đặc cử Cụ tra cứu bờ cõi tiếp giáp Việt - Lào, lập bản đồ toàn quốc. Chỉ sau sáu tháng, cụ làm xong công việc này. Đây là một trong những bản đồ quí ngày xưa. Từ đây, cụ liên tiếp giữ các chức: Tham Tri, Thượng Thư sung kinh diên giảng quan đế dạy vua, làm Phó Tổng Tài Sử Quán và Thăng Hiệp Biện đại học sĩ. Năm Thành Thái 12 (1900) Cụ đã 70 tuổi, dâng sớ xin hưu trí. Vua phê: “Ông là kỳ cựu trong triều đình, đã từng trải trong ngoài, nay tuổi già sức yếu, viện lệ xin hưu, Trẫm cũng chuẩn y để tỏ lòng mến yêu tôi lão”. Từ đấy cụ sống cuộc đời nhàn tản tại quê nhà: “Gầy giúp làng xưa, vui chơi vườn cũ”. Tuy vậy nhà Vua và các bà Hoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu thường mời Cụ Ông và Cụ Bà vào kinh dự yến tiệc trong những lễ lớn và ban tặng nhiều phẩm vật quý. Năm Thành Thái 17 (1905) ngày 3 tháng 12 Ất Tỵ cụ chỉ đau sơ rồi mất tại quê nhà thọ 75 tuổi. Trước khi mất có di biểu dâng Vua và di chúc cho con cháu. Lễ tang được cử hành trọng thể. Triều đình cử khâm mạng đem lễ vật về dự tế. Ngày 22 hạ huyệt tại quê nhà quàn 26 ngày tại nhà thờ cho con cháu, bạn bè, quan khách ở trong tỉnh, ở kinh đô về viếng lễ. Cụ cũng đã để lại nhiều tác phẩm như: Đại Nam quốc cương giới vựng biên, bài bạt sách Cung kỷ luận âm v.v...

Cụ được cáo thọ Vinh lộc đại phu.

Chánh thất: Bà Nguyễn Thị Sanh Tôn nữ hệ 7, con gái thứ tư cụ Tôn Thất Tự, Phó Lãnh Binh tỉnh Nam

Định, quê làng Hương Cần, Thừa thiên. Sinh 26 tháng 6 Giáp Ngọ (1834). Mất 29 tháng 6 Ất Mão (1915) thọ 82 tuổi, mộ ở tại khuôn viên quy táng. Tuy chồng làm quan nhưng nhà vẫn nghèo, bà vẫn đảm đang mọi việc trong nhà. Trên thờ phụng cha mẹ, dưới dạy dỗ con cái, luôn vui tươi nhân từ. Các bà thứ thất là: Hồ thị Mai hiệu Tuyết Khanh, con đầu cụ Tú Tài Hồ Ngọc Lễ làng Cảnh Dương huyện Quảng Trạch Quảng Bình. Sinh 25 tháng 12 Canh Tuất (1850), mất 6-8 Ất Dậu (1885) hưởng dương 36 tuổi. Nguyễn Thị Đệ (Tôn nữ hệ I), con thứ 6 cụ Tôn Thất Tịnh, Thượng Thư Bộ công, sinh 15-10 Giáp Tuất (1874), mất 16-3 Đinh Dậu (1897) hưởng dương 24 tuổi. Con: 11 trai - 10 gái nhưng chỉ đăng thế 7 trai - 4 gái.

1. Hoàng Hữu Bính                        2. Hoàng Thị Hạnh
3. Hoàng Thị Lê                             4. Hoàng Hữu Quản
5. Hoàng Hữu Kiểm                       6. Hoàng Hữu Quỵ
7. Hoàng Thị Lý                            8. Hoàng Thị Liễu
9. Hoàng Hữu Bảng                     10. Hoàng Hữu Kiệt
11. Hoàng Hữu Tiêu



Bạn đang xem Trang 1 trong 6 Trang.

 
 
 
 
  • công ty TK Mỹ thuật Anh Hoàng
  • Trường THPT Hồng Đức
  • Thời trang Bambo
  • Công ty RAAS
  • Website Mua Bán Gạch
  • Công ty CP Tống Linh Giang