Chào mừng bạn đến với website Họ Hoàng
Email In PDF.

HỌ HOÀNG
BÍCH KHÊ - TRIỆU PHONG - QUẢNG TRỊ


 

Họ HOÀNG HỮU - tức họ Hoàng của chúng ta được xem là một trong những dòng họ có danh tiếng không chỉ ở Quảng Trị mà còn ở trong cả nước. Trong quyển Gia Phả (Nhà xuất bản Văn hóa - Hà Nội - 1992) và Dõi Tìm Tông Tích Người Xưa (Nxb Trẻ - TPHCM - 1998), tác giả là cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, một chuyên viên hàng đầu về gia phổ học hiện nay - đã xếp họ Hoàng Bích Khê trong số vài ba chục dòng họ lớn trong nước như Ngô (Thời Nhậm), Nguyễn Tiên Điền (Nguyễn Du)... Họ Hoàng cũng là một trong số ít dòng họ có được quyển gia phổ chính thống để biết rõ cội nguồn phát tích.

Theo Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ chính biên do ngài Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Xứng biên soạn bằng chữ Hán từ năm 1876 thì thủy tổ họ Hoàng vốn xuất phát từ làng Hồng Khê, huyện Duy Tiên, trấn Sơn Nam Thượng tỉnh Hà Nam. (Có bản chép lầm là Sơn Nam Hạ) Vào khoảng thế kỷ thứ 15 - 16, thượng thủy tổ họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội cùng với ông anh ruột và hai ông thủy tổ các họ Đỗ và họ Lê vào Nam theo các đợt di dân lập nghiệp của chúa Nguyễn. Đến bờ sông Điếu Ngao ở Đông Hà, ông anh ngược dòng sông lên vùng Cam Lộ lập nên làng Bích Giang. Ngày nay ở Cam Lộ cũng có một nhánh của họ Hoàng đang sinh sống. Trong đợt trùng tu gia phổ vào năm 1984, nhóm tu chính gia phổ do ông Hoàng Hữu Thước (đời 15) phụ trách đã tìm đến các gia đình họ Hoàng ở Cam Lộ để kiểm chứng nguồn gốc và nhìn bà con - thấy trong gia phổ của nhánh họ Hoàng này cũng ghi lại những sự kiện về gốc gác tương tự. Vậy thuyết này có thể tin được. Mới đây, Nếp Nhà có nhận được bài viết của Hữu Nguyên tức ông Hoàng Mạnh Quân nhan đề “Phải chăng Ngài Thượng thủy tổ của chúng ta là người ở huyện Nông Cống - Thanh Hóa”. Nếp Nhà đã đọc kỹ bài viết ấy và thấy những ức thuyết mà ông Nguyên nêu ra còn nhiều điều chưa được kiểm chứng nên chưa dám công bố trong Nếp Nhà.

Lại nói ngài Hoàng Công Hội chia tay anh, xuôi theo dòng sông Thạch Hãn và dừng lại, cùng hai vị khai canh họ Đỗ, họ Lê lập nghiệp ở địa phận làng Bích Khê ngày nay. Theo Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1784) thì “làng Hồng Khê thuộc tổng Hoa La, huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, “được thành lập vào giữa thế kỷ 15. Như vậy giữa Hồng Khê của huyện Duy tiên (Nam Định) và Hồng Khê của huyện Triệu Phong (Quảng Trị) cùng Bích Khê ngày nay chắc chắn đã có uyên nguyên mật thiết. Tính từ ngài thượng thủy tổ Hoàng Công Hội đến thời điểm năm Canh Thìn 2000, họ Hoàng ta truyền được 20 đời. Từ đời 1 đến đời 5, con cháu thưa thớt. Đến đời 6 chia làm hai phái. Phái nhất với ngài Văn Độ là tổ. Phái nhì ngài Văn Ân là tổ. Đến đời 7 (các con ngài Văn Độ) chia làm 3 chi gồm các ngài Văn Tổng - Văn Thiệp và Văn Lập. Đến đời 8, chi 1 của ngài Văn Tổng lại chia làm 3 chi nhỏ: chi mạnh của ngài Văn Hoạch - chi trọng của ngài Văn Sách và chi quí của ngài Văn Tú. Sang đời ngài Văn Giao (đời 10) chi mạnh lại chia làm 3 phái. Đời 11 con của ngài Văn Giao là các ngài Hữu Trí và Hữu Tư thuộc phái nhất, chi nhất A. Ngài Văn Giao làm quan ký lục ở ngân cục (đúc vàng, bạc) được phong tặng Triều liệt đại phu hàn lâm viện. Con của ngài Văn Giao là Hữu Trí, Hữu Tư đều thông nho học. Đời 12, con trưởng của ngài Hữu Tư là Hữu Lợi rất thông minh, uyên bác và phóng khoáng, đi thi hương nhiều lần không đỗ vì phạm húy hoặc phạm trường qui. Đời 13, con trưởng của ngài Hữu Lợi là Hữu Xứng đỗ cử nhân làm đến Thượng Thư Hiệp Biện đại học sĩ. Dòng họ ta hiển phát từ đấy. Các con thứ của ngài Hữu Lợi là Hữu Nung, Hữu Tuệ, Hữu Bỉnh đều tinh thông nho học. Ngài Hữu Bỉnh đõ cử nhân làm đến Thái Thường Tự Khanh. Con trưởng của ngài Hữu Xứng là ngài Hoàng Hữu Bính đỗ đình nguyên Hoàng giáp, con trai thứ là Hữu Quản đỗ Phó bảng. Các con thứ là Hữu Kiểm, Hữu Quỵ, Hữu Kiệt đều đỗ cử nhân. Hiếm thấy có gia đình nào khoa danh rực rỡ như vậy, cũng có thể nói là một nhà “long phụng tề phi”. Hoặc có những nhân vật không thích ứng với con đường khoa hoạn, chuyển sang hoạt động ở những lĩnh vực khác cũng có những cống hiến xuất sắc không kém. Con của ngài Hữu Tuệ là Hữu Đàn đỗ tú tài năm 17 tuổi, chữ viết rất đẹp, được vua Khải Định triệu về kinh làm bí thư nhưng ngài ghét cảnh giàm danh khóa lợi, từ bỏ chức quan, xuất gia đi tu và trở thành một vị cao tăng đắc đạo, pháp danh là Thích Giác Phong. Chính ngài đã sáng lập ra chùa Hải Đức và trung tâm Phật học lớn của giáo hội Tăng già miền Trung ở Nha Trang và nhiều chùa chiền khác ở trong nước.


Mộ Ngài Thượng thủy tổ HOÀNG CÔNG HỘI VÀ PHU NHÂN tại nghĩa trang Nương Âm - Bích Khê

Ngày nay truyền thống thư hương của họ Hoàng vẫn tiếp tục phát huy ở những đỉnh cao mới với những tên tuổi nổi tiếng trong và ngoài nước: Hoàng Thi Thơ (đời 14), nhạc sĩ - Hoàng Kiều, doanh nhân tầm cỡ quốc tế - Hoàng Hữu Đường (đời 16) nhà toán học - Hoàng Phủ Ngọc Tường (đời 16), nhà văn... Đột xuất có Hoàng Thanh Trang (đời 16), đạt danh hiệu đại kiện tướng quốc tế cờ vua năm 12 tuổi và vô địch thế giới cờ vua là thành tích thể thao cao nhất mà lần đầu tiên người Việt Nam đạt được trong các cuộc đua tài quốc tế. Ngoài ra, còn rất nhiều người khác trong đội ngũ tri thức của họ Hoàng cũng có nhiều cống hiến nhất định cho xã hội: Hoàng Minh Chương, tiến sĩ toán - Hoàng Hữu Hiên, tiến sĩ vật lý - Hoàng Hữu Hải, Hoàng Thị Lài, Hoàng Hữu Tiến, Hoàng Chiến Sơn, Hoàng Chiếm Lâm... bác sĩ y khoa - Hoàng Ngọc Nguyên, nhà nghiên cứu kinh tế - Hoàng Hữu Sáng, kỹ sư luyện kim - Hoàng Ngọc Biên, nhà thiết kế mỹ thuật sách báo...

Người họ Hoàng phần lớn có cá tính mạnh mẽ và đó là nhân cách đặc biệt. Các ngài Hoàng Hữu Lợi (đời 12), Hoàng Hữu Đàn (đời 14), coi thường công danh. Các ngài Hoàng giáp Hoàng Hữu Bính, Hoàng Hữu Kiệt tuy làm quan nhưng tính tình khẳng khái, không hề chịu khom lưng cúi đầu. Các ngài Hữu Xứng, Hữu Quỵ nổi tiếng là thanh minh, liêm chính và rất thương dân.

Thời kỳ chống Pháp, một bộ phận quan trọng trong các gia đình họ Hoàng đã tham gia kháng chiến. Đã có 10 liệt sĩ cống hiến xương máu cho tổ quốc. Đặc biệt là bà Hoàng Thị Ái (đời 15) tham gia cách mạng từ năm 1927, nay đã 101 tuổi đời, 70 tuổi Đảng, một đời giản dị thanh bạch, được xem là một nhân cách lớn trong giới phụ nữ Việt Nam. Trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, người con dân họ Hoàng sống dưới cả hai chế độ đều có những khó khăn thử thách nhưng không hề nảy sinh những hạng người cặn bã, lưu manh tham quan ô lại phản dân hại nước.

Phần lớn các gia đình họ Hoàng theo đạo Phật. Một vài gia đình có đạo Thiên Chúa. Cũng có kẻ giàu người nghèo, mà phần đông là nghèo. Nhìn chung người họ Hoàng có thể chất ngoại hình tầm thước và thanh nhã, mạnh về trí tuệ và tình cảm chứ không phải về xương thịt. Tuy nhiên, một bộ phận hậu duệ của ngài Hoàng Hữu Bỉnh, từ đời 14 trở đi phần lớn nam nữ đều có chiều cao trên trung bình, ngoại hình phổng phao, diện mạo thanh tú.

Nhưng dầu có bất kỳ khác biệt nào, khi quay về với gia đình, mọi người đều giữ vững tôn ti trật tự, thân ái mà lễ nghĩa, hết lòng thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Họ Hoàng xuất phát từ làng Bích Khê nhưng không chôn chặt đời mình tại mảnh đất nhỏ hẹp đó. Từ nhiều đời trước, tiền nhân đã được bổ nhiệm đi làm quan ở kinh đô, ở Hà Nội và nhiều tỉnh thành trong nước. Ngày nay, con cháu họ Hoàng cũng có mặt trên từng cây số của ba miền đất nước: Tuyên Quang và Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Bà Rịa Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Bình Tuy, Long Khánh, Suối Nghệ, Cần Thơ...

Đông đảo nhất hiện nay vẫn là số bà con họ Hoàng tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975. Một bộ phận quan trọng khác đang sinh sống ở nước ngoài: Mỹ, Pháp, Đức, Italia, Nga, Trung Quốc... Dầu đi xa nhưng tình cảm của người họ Hoàng đối với bà con, làng nước không bao giờ phai nhạt. Phần lớn đình chùa, nghĩa trang, nhà thờ họ và nhiều công trình phúc lợi khác ở làng Bích Khê được xây dựng lại sau chiến tranh đều có phần đóng góp quan trọng của bà con họ Hoàng. Những lúc quê nhà bị bão lụt, bà con họ Hoàng trong và ngoài nước thông qua ban đại diện ở thành phố Hồ Chí Minh, đều kịp thời góp phần cứu trợ không nhỏ.

Chim có tổ người có tông. Cây có cội, nước có nguồn. Hôm nay Nếp Nhà xin hân hạnh giới thiệu đôi điều để toàn thể bà con họ Hoàng tưởng nhớ công ơn của liệt tổ liệt tông, đồng thời lấy đó làm niềm tự hào để dìu dắt các thế hệ con cháu biết kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của gia tộc.

BÍCH HOÀNG 

 

Email In PDF.

NHÀ THỜ HỌ HOÀNG
QUA NHỮNG BƯỚC ĐỔI THAY

Cho đến nay, Họ hoàng Bích Khê đã trải qua 4 “đời nhà thờ Họ”.
  1. Đời 1: khởi thủy từ thời nào không rõ. Nhưng nếu cứ lấy cuộc đời của kẻ viết bài nầy làm mốc để tính toán thì cách đây gần 70 năm khi điều tra viên còn trong bụng Mạ “nhà thờ Họ đời 1” đã có rồi, và trước đó cả trăm năm tổ tiên nhiều đời họ Hoàng ta đã từng chiêm bái ở “nhà thờ Họ Đời 1” ấy.

Theo một lão bối của họ Hoàng cho biết thì bộ “giàn giá” 5 căn truyền thống của “Đời 1 nhà thờ Họ” nguyên được tổ tiên “tậu” lại của một họ Đạo trong vùng. Họ Đạo này tiến lên xây dựng cho giáo xứ mình một giáo Đường theo kiểu Tây và bán bộ giàn giá ấy cho họ Hoàng Bích Khê.

Đến 1972, như chúng ta đã biết; “đời 1 nhà thờ Họ” “qua đời” vì bom đạn chiến tranh.

  1. Đời 2: “Nhà thờ họ Hoàng Đời 2” là gọi cho vui vậy thôi, chứ đó không phải là “nhà” mà là “cái dại” với hai tấm tranh cùn ghép lại trên đống gạch vụn để làm chỗ che mưa đụt nắng cho Linh vị Tổ tiên, lúc ấy chỉ còn sót lại một mảnh gỗ mục với hàng thếp vàng đã lóc gần hết. Sau này con cháu đem cưa lọc lại để gắn vào linh vị mới lưu chút di tích ngày xưa. Đây là hiện tượng từng làm đau lòng con cháu nội ngoại họ Hoàng sau ngày đất nước hòa bình về tìm thăm lại cội nguồn cắt rốn chôn nhau. Ai muốn thấy ảnh “cái dại” ấy xin tìm gặp Đời 16 Hoàng hữu Kham ở Vũng Tàu.

“Nhà thờ Họ đời 2” (xin tạm gọi thế) chấm dứt tuổi thọ não nùng ấy vào mùa thu Quý Hợi 1983 sau 11 năm tồn tại dưới dạng cái “mái dại” ấy.

  1. Đời 3: Đời 3 nhà thờ Họ ra đời vào năm 1983. Nhà thờ Họ Đời này là biểu tượng của tinh thần gia tộc của con cháu họ Hoàng không phân nội ngoại, ở đỉnh cao nhất. Đấy là thời điểm của khó khăn kinh tế mà mỗi người phải làm việc bằng hai, bằng ba mới đủ nuôi sống gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ nỗi xót xa ngậm ngùi đối với tổ tiên khai sáng dòng họ mà một “chiến dịch thắt lưng buộc bụng” đã được các Trưởng bối dòng tộc phát động để con cháu được dịp bày tỏ niềm hiếu nghĩa với cội nguồn. Công lao xin được ghi khắc thật sâu thật đậm cho tất cả mọi người có mang họ Hoàng hay mang họ ngoại đã đổ mồ hôi để đổi lấy vật hạng xây dựng nơi an trú cho anh linh tổ tiên; nhưng cũng xin được biểu dương riêng tích cực của “vận động viên” Hoàng hữu Kham, “nhà tài trợ chính” Hoàng hữu Kiên, kỹ sư thiết kế kiêm chỉ huy công trường Hoàng thạch Cẩm, bộ phận thường trực Trần Cáp - Hoàng thị Thược cùng các cháu ngoại họ Trần, “người anh hùng cô đơn” Hoàng hữu Thục và trên hết là thượng cấp chỉ đạo Hoàng hữu Thước (đã quá cố) – Bên cạnh đó, còn phải nói tới các anh hùng Lao động “vô danh” với thợ nề Hiển đã thi công xây suốt 1 tháng ròng rã để cho nhà thờ Họ Đời 3 có mặt giữa Bích Khê. “Đời 3 nhà thờ Họ Hoàng” ra đời đã “đánh động” tình cảm gia tộc của nhân dân địa phương, khuyến kích cả làng trong việc phục hồi các cơ sở văn hóa truyền thống đã bị mất đi trong chiến tranh và củng cố tinh thần hiếu nghĩa vốn sẵn có từ lâu đời của con dân Bích Khê. Điều đáng tiếc là vật hạn xây dựng hồi ấy đều thuộc loại “tự sản tư tiêu” của Quảng trị “thời bán khai” nên từ đường đời 3 này của Họ Hoàng đã không thể đứng vững được trước những cơn bão lụt thường xuyên của miền Trung nên lại đến lúc phải tái thiết.
  2. Đời 4: “Nhà thờ Họ Đời 4” được khai sinh trong khí thế đóng góp hồ hởi nhất của con cháu nội ngoại họ Hoàng “thời mở cửa” với nét kiến trúc “tân cổ giao duyên”, bê tông hóa toàn bộ cột kèo chống mối mọt. Có tới “tứ long Triều Tổ”, “nhị phụng nghinh phong”, “nhị quy chầu nguyệt” và “Lưỡng Lân phục địa”. Trong nội thất thì tổ họ và hai tổ phát được ngự “ngai vàng” hẳn hoi - Còn có cả Phổ đồ Hoàng tộc và bảng dẫn trình phát tích của dòng Họ cùng bảng thông tin sinh hoạt nội bộ và bảng liệt kê danh sách con cháu đã đóng góp vào công tác tái thiết, thể hiện một “tính văn hóa” rõ ràng. Đến đây, lại xin được phép biểu dương công đức của nhà thiết kế xây dựng Hoàng Thạch Cẩm, kẻ luôn “thả hồn” vào mọi công trình phụng tự của gia tộc, đồng thời ghi nhớ công đức của nhà thầu Nguyễn Thú ở làng Long Hưng, người đã biến bản thiết kế của kỹ sư họ Hoàng thành hiện thực.

“Đời 4 nhà thờ Họ” chính thức được “khai sinh” vào ngày 25/8/1996 nhằm 12/7 Bính Tý trong niềm hân hoan của con cháu họ Hoàng từ Bắc chí Nam về dự - Ngày đó cũng nhằm ngày mùa báo hiếu Vu Lan.

Tuy nhiên, thành tích hiếu nghĩa này được thành tựu mỹ mãn, trước hết là nhờ tài khôn khéo điều động và kỹ năng quản lý “ngân sách” của thủ quỹ: Đời 15 Hoàng hữu Trung - Tài sản tái thiết do bà con đóng góp không những không hề “sứt mẻ” mà trái lại còn “sinh sôi nẩy nở” thêm tới gần 20 triệu! Ấy cũng là nhờ vị hiền nội của ông Trung đã tích cực giúp “đức ông” thiết kế bày mưu đem về lợi lạc cho cả dòng họ nhà chồng, cũng giống như 1 vị hiền nội khác của ông Đại diện dòng tộc ở Huế đã bao năm giữ vững kỷ cương quản lý quỹ hương hỏa Nghĩa trũng, quỹ hương hỏa “cụ cố” Đời 13, cho cánh Họ Hoàng tại Cố Đô. Không có 2 người dâu hiền này e rằng tiền vô nhà khó như gió vô nhà trống.

Ấy vậy, nhưng thử hỏi, tất cả những thành tựu lớn lao ấy và những biểu dương đang còn quá nhiều thiếu sót nầy sẽ thế nào nếu như không được năng nổ đôn đốc, nhiệt tình chăm sóc, điều hòa của những Đời 14 Hoàng hữu Lạc rồi Hoàng hữu Hạch, đời 15 Hoàng hữu Thước, Hoàng thị Hạnh, Đời 16 Hoàng hữu Dai, Hoàng hữu Kham...?

Và cũng như những công trình tái thiết khác của họ, của làng sau chiến tranh, bà con họ Hoàng ở  nước ngoài như Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Thái Lan... bao giờ cũng bài tỏ nhiệt tình đối với việc lớn của gia tộc. Cái đó là “nước đi ra biển lại mưa về nguồn”.

Sau cùng xin bà con đừng có mới quên cũ. Có được nhà thờ đời 4, phải nhớ đến đời 3, đời 2, đời 1 - đời nào cũng công đức tâm huyết như nhau. Không thể nói đời sau hơn đời trước.

DUYÊN THƠ

Email In PDF.

NHÀ THỜ CHI NHẤT A

Nhà thờ chi nhất A của họ Hoàng, thường gọi là nhà thờ Chi nằm ở địa đầu làng Bích Khê, đi trên tỉnh lộ rất dễ nhìn thấy. Nhà thờ do ngài Hoàng Hữu Lợi sáng lập cách nay gần 150 năm. Kiến trúc ban đầu do chính ngài thiết kế kiểu dáng, phối cảnh, cả những hoa văn, chi tiết trang trí ở đầu cột kèo cũng do ngài tự tay vẽ mẫu để cho thợ mộc chạm trổ. Nhà thờ không lớn lắm, có lẽ do thời ấy, các ngài ở Chi Nhất còn phải gánh vác kinh phí cho những công trình khác như đình, chùa, nhà thờ họ và cả đàn Nghĩa Trũng. Vào khoảng những thập niên giữa thế kỷ 20, người chăm sóc nhang khói ở từ đường là ông Hoàng Hữu Tăng (tên thường gọi là Chắt). Ông Chắt tuy bị câm và điếc nhưng rất có hoa tay. Ông  thường xuyên tô điểm, trang trí vách tường, điện thờ, bố trí hoa cảnh trong sân vườn, nhờ đó nhà thờ luôn luôn được khang trang, ấm cúng. Sau khi ông Chắt qua đời, em trai  là ông Hoàng Hữu Thiềm tiếp tục công việc. Ông Thiềm là người tu tại gia nên bày thêm bàn Phật ở chính điện ngày hai lần công phu tụng niệm. Có thêm tiếng chuông tiếng mõ, nhà thờ càng thêm trang nghiêm. Linh vị của liệt tổ, di cảo của tiền nhân và quan trọng nhất là các bản gia phổ gốc bằng chữ Hán và song ngữ Hán Việt đều được lưu giữ tại nhà thờ Chi. Gian chính điện có bức ảnh chân dung của ngài Hoàng Hữu Xứng khổ lớn do một họa sĩ cung đình ở Huế là ông Nguyễn Văn Nhân vẽ theo lối truyền thần ký ức. Trong trận chiến ác liệt dài ngày năm 1972, nhà thờ bị bom đạn phá hủy. May nhờ ông Hoàng Hữu Kham liều chết quay về nhà thờ cứu được toàn bộ gia phổ, di cảo và các sắc phong. Sau hiệp định Paris, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường có lần về thăm nhà thờ. Trong đống gạch vụn, ông Tường đã nhặt được một mẫu ván bể nát, chỉ còn sót lại một chữ HOÀNG viết bằng chữ Hán. Đó chính là tấm bảng đề hai chữ Hoàng môn sơn son thếp vàng gắn trên cổng tam quan của nhà thờ chi. Ông Tường coi chữ Hoàng ấy như tấm gia huy, đem về để trên bàn thờ. Sau năm 1975, chúng ta phải ưu tiên tái thiết nhà thờ Họ nên nhà thờ Chi vẫn chỉ là hình ảnh hoài niệm trong ký ức. Có một người đã biến hoài niệm thành hình ảnh cụ thể. Đó là họa sĩ Hoàng Hữu Chỉ. Ông đã dùng ký họa vẽ lại toàn cảnh nhà thờ Chi vào thời chưa bị chiến tranh hủy diệt. Mấy năm sau, kế hoạch tái thiết nhà thờ Chi được tái khởi động với sự tài trợ chính của ông Hoàng Kiều và với sự đóng góp  công sức của bà con nội ngoại,tích cực nhất là quí ông Hoàng Hữu Hạch,Hoàng Hữu Pha,Hoàng Hữu Kham ...Lúc đầu bản vẽ được giao cho một kiến trúc sư tài năng, tốt nghiệp ở Mỹ là ông Hoàng Mai Hãn, con trai ông Hoàng Mai Lĩnh. Nhưng bản vẽ của ông Hãn quá hoành tráng, vượt mức tài trợ của ông Hoàng Kiều, vả lại không phù hợp với bối cảnh nông thôn còn nhiều khó khăn. Vì vậy người chủ trì công trình nầy là ông Hoàng Hữu Hạch quyết định chỉ giữ lại bức bình phong trong bản vẽ của ông Mai Hãn còn kiến trúc chính của nhà thờ Chi thì đành phải thu nhỏ và tinh giản đi nhiều - đó chính là nhà thờ chúng ta thấy hiện nay. Sau khi hoàn chỉnh phần xác, phần hồn - tức là trang trí, thiết kế nội thất phải nhờ đến hai họa sĩ tài năng trong lĩnh vực này là Hoàng Hữu Chỉ và Hoàng Bích Hoài Anh. Đặc biệt, ông Hoàng Hữu Chỉ là người để lại dấu ấn mỹ thuật trên mọi công trình trùng tu của họ Hoàng: nhà thờ Họ, nhà thờ Chi, Lăng mộ, đàn Nghĩa Trũng, thơ văn, ấn phẩm… Nhà thờ Chi  “đời mới” khánh thành vào năm 2005 là niềm vui lớn của bà con họ Hoàng. Năm 2008, khánh thành thêm công trình hồ bán nguyệt rất đẹp ở trước cổng nhà thờ. Công trình này do ông Hoàng Hữu Pha tài trợ đã làm cho kiến trúc nhà thờ càng thêm hoàn chỉnh.

       Có một số ý kiến cho rằng các chi phái khác của họ Hoàng ngày nay không còn nhiều người, tuyệt đại đa số đều thuộc chi nhất. Chỉ cần đại tu nhà thờ Họ là đủ. Việc xây lại nhà thờ Chi sẽ làm phân tán tình cảm và hao tốn sức người sức của. Nhưng cũng có nhiều người khác cho rằng lịch sử của họ Hoàng gắn với nhà thờ Chi đã hơn một trăm năm nay. Tâm tư tình cảm, kỷ niệm của bà con họ Hoàng trong nhiều thế hệ gắn với nhà thờ Chi rất thiêng liêng sâu sắc. Bởi vậy việc tái thiết nhà thờ Chi là rất phù hợp với tâm nguyện của bà con. Và tâm nguyện nầy cũng rất chính đáng.

                                                                                                                                    HẠNH HOA

Email In PDF.

CÓ MỘT HỌ HOÀNG BÍCH GIANG
ANH EM RUỘT THỊT VỚI HỌ HOÀNG BÍCH  KHÊ

Có lẽ bà con mình ít người biết rằng họ Hoàng Bích Khê của chúng ta có một người anh ruột là họ Hoàng ở làng Bích Giang, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

    Theo Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ Chính Biên do ngài Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Xứng biên soạn bằng chữ Hán từ năm 1876 thì thủy tổ họ Hoàng vốn xuất phát từ làng Hồng Khê, huyện Duy Tiên, Trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc tỉnh Hà Nam). Vào khoảngthế kỷ thứ 15-16, thượng thủy tổ họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội cùng với ông anh ruột và hai ông thủy tổ các họ Lê và họ Đỗ vào Nam theo các đợt di dân lập nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng. Đến bờ sông Điếu Ngao ở Đông Hà, ông anh ngược dòng sông lên vùng Cam Lộ, lập nên làng Bích Giang. Còn ngài Hoàng Công Hội thì xuôi theo sông Thạch Hãn, cùng hai vị thủy tổ họ Lê, họ Đỗ lập nghiệp ở làng Bích Khê.

    Vào năm 1984, nhóm tu chính gia phổ do ông Hoàng Hữu Thước (Đ.15) đã tìm đến các gia đình họ Hoàng ở làng Bích Giang để kiểm chứng nguồn gốc và nhìn bà con. Đó là lần gặp nhau gần đây nhất giữa hậu duệ của hai nhánh họ Hoàng diễn ra cách đây hơn 25 năm. Lần ấy các vị đại diện của hai bên chỉ chuyện trò giao hữu rồi vui vẻ chia tay mà không có thông tin, hình ảnh nào được ghi nhận. Sau khi các vị ấy qua đời, chúng ta vẫn không biết thêm gì hơn.

    Tháng 05 năm 2010, trong dịp hành hương về giỗ tổ ở làng Bích Khê, tôi đã thử lặp lại cuộc hành trình của cụ Hoàng Hữu Thước. Trước tiên cần xác định địa bàn sông Điếu Ngao, nơi hai anh em các ngài thượng thủy tổ chia tay nhau. Tôi đã truy cập Google Maps nhưng không thấy từ này trên bản đồ tỉnh Quảng Trị. May sao, ông Hoàng Hữu Bản (Đ16) giới thiệu cho tôi một người bạn tốt nghiệp Viện Hán Học Huế, cư trú lâu năm tại Đông Hà. Ông bạn nầy cho biết: Điếu Ngao là tên cũ của đoạn sông Hiếu chảy qua địa phận Đông Hà. Làng Điếu Ngao xưa kia là phần đất bao gồm các khu phố 1,2,3,4,5 của thành phố Đông Hà ngày nay. Từ làng Điếu Ngao nầy, tôi theo đường 9 lặn lội đi tìm làng Bích Giang trên Cam Lộ. Nói lặn lội cho có vẻ giang hồ chứ đường 9 bây giờ rộng thênh thang và đã tráng nhựa, xe máy chạy êm như ru.Đi từ Thị xã Đông Hà ,sẽ gặp làng Bích Giang ,thuộc địa bàn xã Cam Hiếu nằm bên tay phải trục đường 9, cách thị trấn Cam Lộ khoảng 5km. Đầu làng là một lò gạch lớn của Công Ty gạch ngói tỉnh Quảng Trị, một cơ sở sản xuất đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Đoạn đường đầu làng đúc bê tông, có nơi rộng đến 12 mét. Tôi hỏi thăm bà con ở đầu làng, nhờ giới thiệu cho một gia đình họ Hoàng có người cao tuổi nhất. Theo chỉ dẫn của họ, tôi đi đến cuối làng và tìm được nhà cụ Hoàng Sâu 93 tuổi, tộc trưởng họ Hoàng ở Bích Giang. Cụ không nói chuyện được nhiều nhưng hai người con trai của cụ là các ông Hoàng Văn Kỳ Nam và Hoàng Văn Sí tiếp đón tôi rất niềm nở. Họ rất ngạc nhiên khi biết rằng tôi từ Thành phố Hồ Chí Minh ra đây chỉ với mục đích tìm hiểu mối quan hệ nguyên thủy của hai dòng họ Hoàng cách nay mấy trăm năm. Hiện nay,ở đây cũng không mấy ai  biết rằng họ Hoàng Bích Giang còn có một người em ruột thịt là họ Hoàng Bích Khê. Tôi bèn tặng họ một quyển Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ (2001) cùng một ít lễ phẩm để thắp nhang cúng bàn thờ và xin được xem quyển gia phổ của họ Hoàng Bích Giang. Quyển gia phổ của họ được cất giữ cẩn thận trong một chiếc hộp gỗ, in bằng chữ quốc ngữ, ghi rõ từ đời 1 đến hết đời 19. Tôi đọc thấy tên vị Tiền khai khẩn là Hoàng Bá Ngụ - tước hiệu Tiềm Long Hầu - mất ngày 21 tháng tư (âm lịch) nhưng không ghi rõ năm nào. Họ Hoàng Bích Giang lấy ngày này làm ngày giổ tổ hằng năm. Ngài Hoàng Bá Ngụ còn có mấy người em là Hoàng Bá Lão, Hoàng Bá Đại và một vị tên là Hoàng Công Chẩn. Danh tự này rất gần với tên ngài Thượng thủy tổ Hoàng Công Hội của họ Hoàng Bích Khê ta. Như thế Hoàng Bá Ngụ là tên người anh cả đã chia tay với ngài Hoàng Công Hội ở bên bờ sông Điếu Ngao. Rất tiếc là quyển gia phổ này không có ghi phần thuật nghiệp nhưng tước Tiềm Long Hầu của ngài Hoàng Bá Ngụ là một quan chức rất lớn, ngang với tước Lễ Thành Hầu của Nguyễn Hữu Cảnh, người khai phá vùng Đồng Nai Bến Nghé ở Nam Bộ. Tiền nhân thì lẫy lừng như thế nhưng hậu duệ của họ Hoàng Bích Giang lại không hiển đạt bằng hậu duệ ở làng Bích Khê. Bà con họ Hoàng Bích Giang chủ yếu làm nghề nông. Sau năm 1975, làng Bích Giang phát triển thêm một cộng đồng cư dân sống bằng công nghiệp gạch ngói, lập ra làng mới gọi là Tân Giang. Họ Hoàng ở làng cũ lẫn làng mới hiện có đến hàng trăm nhân khẩu, đông đảo hơn nhiều so với người họ Hoàng sinh sống ở làng Bích Khê.

     Làng Bích Giang nằm bên bờ sông Hiếu, khí hậu mát mẻ, đất rộng người đông, phong cảnh hữu tình, giao thông thuận lợi. Bích Khê và Bích Giang cũng không cách xa nhau mấy. Nên chăng từ nay hai bên tăng cường mối quan hệ sâu rễ bền gốc để cuộc sống của con cháu chúng ta ngày càng vui vẻ, tốt đẹp hơn?

                                                                                               BÍCH NHÂN

              

Email In PDF.
NẾP NHÀ KHOA BẢNG

     Họ Hoàng chúng ta có truyền thống coi trọng việc học. Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng cũng cố gắng lo cho con cháu học hành tới nơi tới chốn. Người nghèo mà có học vấn thì càng được bà con quí trọng. Ấy là nếp nhà, xưa  nay đều như vậy.

     Người khai khoa cho họ Hoàng là ngài Hoàng Hữu Xứng (Đ.13), đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý (1852), dưới triều vua Tự Đức, hàm phong Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Em trai ngài Hữu Xứng là Hữu Bỉnh, đỗ Cử nhân năm Tân Mão (1891), hàm phong Thái Thường Tự Khanh. Con trai trưởng của ngài Hữu Xứng là Hữu Bính, đỗ Hoàng Giáp khoa thi Tiến sĩ năm Kỷ Sửu (1889). Ba người em trai của ngài Hữu Bính là Hữu Quản, Hữu Quỵ, Hữu Kiệt và con con trưởng là Hữu Thảng đều đỗ cử nhân. Đương thời, hiếm thấy gia đình nào khoa danh rực rỡ như vậy. Có thể nói là một nhà, long phụng tề phi. Hiện tượng nầy không chỉ xảy ra một lần. Bước qua thời kỳ Tây học, Hoàng Hữu Chỉ đỗ đầu kỳ thi tiểu học toàn tỉnh Quảng Trị. Cùng khoa thi Tiểu học năm ấy, Hoàng Phủ Ngọc Tường đỗ đầu toàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Mấy năm sau, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đỗ thủ khoa kỳ thi Trung Học Phổ Thông với điểm số cao nhất toàn miền Trung.

     Trong vòng vài thập niên gần đây họ Hoàng lại có thêm một thành tích học tập rất đáng tự hào: gia đình ông Hoàng Thạch Thiết  (Đ.17) có 4 người con thì 2 con trai là Hoàng Thạch Quân  và Hoàng Thạch Luân đều đỗ Tiến sĩ (Ph.D) .Còn hai cô con gái là Hoàng Thị An Vi  và Hoàng thị Tề My thì lấy đến 5 bằng Thạc sĩ (Master) ở Hoa Kỳ.

     Nhìn chung  trong các gia đình họ Hoàng hiện nay, những bằng cấp thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, cao đẳng… không phải là hiếm. Riêng học vị Tiến sĩ đã có 5 người xứng đáng vinh danh. Đó là: Hoàng Hữu Hiên (Đ.15); Hoàng Minh Chương (Đ.15); Hoàng Hữu Đường(Đ.16); Hoàng Thạch Quân (Đ.18); Hoàng Thạch Luân (Đ.18).

VINH DANH HỌC VỊ TIẾN SĨ


NGŨ MUỘI ghi.


Email In PDF.

A  FAMILY TRADITION OF ACADEMIC  ACHIEVEMENT *

     We the Hoang Family have a tradition of respect for study. Many members in the family have in spite of difficulties tried to provide their offspring with a good education. The poorer they are, in fact, the higher the esteem accorded to them by relatives if they attain a high level of education. This invariably has been our family tradition.

       The person who had started the tradition was Hoang Huu Xung (Generation 13) who got his Bachelor’s degree in the year of the Rat (1852), under the reign of King Tu Duc and subsequently was appointed as High-ranking Court Academician (Hiep Bien Dai Hoc Si). His younger brother, Huu Binh ,got a Bachelor’s degree in the year of the Cat (1891). and his eldest child , Huu Binh , obtained his Ph.D in the year of the Buffalo (1889). Huu Binh‘s brothers - Huu Quan, Huu Quy and Huu Kiet - each had a Bachelor’s degree. Few at the time were families with such outstanding academic achievements. This kind of scholastic excellence had not been achieved just once.For during the initial period of Western educational  introduction Hoang Huu Chi came first in the Elementary examination in Quang Tri Province. In the same year Hoang Phu Ngoc Tuong ranked first in the Elementary Examination in Thua Thien Province. A few years later, Tuong again got first place in the Junior High School Exam in the same province with the highest score  in the whole of Central Viet Nam.

     Recently the Hoang family has proudly boasted yet another academic success notched up by Hoang Thach Thiet’s family of four with two boys- (Hoang Thach Quan and Hoang Thach Luan) having two Ph.Ds to their credit and two girls- (Hoang Thi An Vi and Hoang Thi Te My )dividing 5 Master’s degrees between them - all from US  universities.

     Overall, there are quite a few holders of university degrees, MDs, engineers, etc.in the family. Five Ph.Ds include Hoang Huu Hien (Generation 15), Hoang Minh Chuong (gen.15), Hoang Huu Duong (gen.16), Hoang Thach Quan (gen.18) and Hoang Thach Luan (gen.18).

HOANG THACH THIET

This translation is for Bichkhe-Hoang expatriates who cannot read Vietnamese, in the hope of providing them with a reason to be proud of their origins.

Bạn đang xem Trang 1 trong 2 Trang.

 
 
 
 
  • công ty TK Mỹ thuật Anh Hoàng
  • Trường THPT Hồng Đức
  • Thời trang Bambo
  • Công ty RAAS
  • Website Mua Bán Gạch
  • Công ty CP Tống Linh Giang