Chào mừng bạn đến với website Họ Hoàng
Email In PDF.

NHÌN LẠI CUỘC SỐNG Ở LÀNG QUÊ XƯA
Qua
BẢO TÀNG NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chủ nhân của Bảo tàng là bác Trần Phú Sơn, một cán bộ ngành xuất bản đã về hưu. Bảo tàng được bác Sơn thành lập năm 2004 và hiện là một trong ba bảo tàng tư nhân được cấp phép ở Việt Nam. Khách đến với bảo tàng của bác Sơn không cần phải mua vé mà chỉ cần có lòng nhiệt thành với những giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể mà người làm nông xưa kia đã để lại. Bác Sơn vừa là Giám đốc Bảo tàng, đồng thời đảm nhận trọng trách của một hướng dẫn viên tận tụy. Qua lời kể hào hứng, lời giải thích tỉ mỉ và cặn kẽ của bác, cả một kho tàng kiến thức độc đáo về đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân Việt Nam đầu thế kỹ XX được khai mở trong tâm trí mỗi người.

Đọc thêm...
Email In PDF.

THÊM MỘT TIN VUI

Chúng tôi vừa nhận được tin : Ông HOÀNG TẤT ĐẠT (Đ 15) sẽ từ Mỹ về dự lễ ở nhà thờ Chi Nhất A.Nhân dịp nầy ông Hoàng Tất Đạt sẽ góp vào quỹ nhang khói 2000.000đ.Vui hơn nữa. ông Đạt còn mang theo kèn ( chưa biết loại kèn gì) để độc tấu góp vui với bà con trong đêm văn nghệ.

( Nguồn tin từ iPhone của ngài Hoàng Hữu Hạch).

Email In PDF.

HÌNH NHƯ LÀNG TA CHƯA BIẾT SỢ CÂY
MAI DƯƠNG?

ĐỖ THIÊN BẢO

     Cách đây vài năm tôi có dịp về làng Bích Khê thăm mộ. Lúc ấy tôi đã thấy cây mai dương mọc rải rác đây đó, hai bên đường đi, chen vào giữa những chỗ đất trống bên cạnh mồ mả hoặc mọc ngay giữa ruộng. Sau lưng bia mộ của nhà tôi có một bụi cao bằng đầu người. Thấy cây đó là tôi rất lo nên tôi có nhờ một người bà con bỏ ra một ngày công chặt bỏ giùm cây ấy, dặn để vài ngày cho nó khô rồi đốt cả gốc lẫn ngọn. Hè vừa rồi tôi lại về thăm mộ thì thấy bụi cây mai dương ấy đã phát triển thành một lùm cây bằng mấy người ôm, nhìn thấy ớn.

Đọc thêm...
Email In PDF.

BIỂN, ĐẢO
MỘT PHẦN MÁU THỊT TRONG TÔI

Bài và ảnh: Lê Thị Thu Thanh

“Biển Việt Nam dài và rộng lắm
Vóc dáng, hình hài từ sóng khắc thành tên”

                                                                       (Huỳnh Thúy Kiều)

Đọc thêm...
Email In PDF.

Texte sur impressions au Vietnam

Mon nom est Tu-Anh Sébastien Rozette, et suis né le 14 Aout 1992 ; je suis le plus jeune de ma famille et ai une grande sœur Kim-Anh Sonia  qui a dix-neuf ans.  Fils de Marc Rozette et  de Xuan Hong Rozette, née Hoang, je me situe à la dix-septième génération de la lignée Hoang.

Nous vivons actuellement tous les quatre à Paris, là où je suis né et où se trouvent les racines familiales de mon père.

Comment pourrais-je vous décrire brièvement tous les sentiments que je ressentis quand j’arrivais pour la première fois au pays natal de ma maman?

L’avion s’apprêtait à atterrir à l’aéroport de Saigon et ma mère avait déjà les larmes aux yeux ; comme je la regardais du coin de l’œil, je réalisai que l’on ne perd jamais ses racines. C’est sous une pluie battante que j’affrontais la foule et la chaleur moite dès la sortie de l’aéroport. J’étais étonné du spectacle qui s’offrait à mes yeux ; tout était bien différent de ce que je connaissais en France : la foule de motocyclettes, le concert des klaxons, les marchands ambulants, le fouillis des fils électriques au-dessus des rues, etc. A la nuit tombée, cette animation continuait de plus belle et cette ambiance m’envoutait complètement.

L’étape suivante fut la ville du Hue, d’où était originaire la lignée familiale de ma mère, et donc la moitié de mes origines. Hue m’apparut tout de suite beaucoup plus calme et réservée que sa grande sœur Saigon ; l’accent des gens ici était un peu différent et plus chantonnant que celui que je connaissais habituellement. La visite de ses nombreux tombeaux, mausolées, palais, temples et autres monuments que nous fîmes plus tard me confirmèrent dans l’idée que cette ville était bien le cœur culturel du pays.

Nous demandâmes à la réception de notre hôtel des renseignements sur l’adresse d’un tonton vivant à Hué-(Monsieur Ngoc Tuong Hoang Phu) et je fus étonné de voir que tout le monde le connaissait et qu’il était très célèbre pour avoir joué un rôle important dans l’histoire du pays. Nous eûmes le plaisir de le voir à deux reprises, et malgré le fait qu’il soit handicapé et ne puisse plus converser longuement, cette rencontre me marqua fortement.

Le deuxième jour, nous voilà partis pour découvrir le tombeau familial. Après deux heures de route, nous atteignîmes le village de Quang Tri. Là, nous demandâmes notre chemin et quelle ne fut pas ma surprise de voir que tous les habitants avaient l’air de connaître la famille Hoang ; l’un d’entre eux monta même en voiture pour nous guider jusqu’à l’autel familial. L’émotion fut grande quand nous fûmes accueillis par les membres de notre famille et qu’ils nous expliquèrent l’arbre généalogique avec les photos présentées sur l’autel !

Nous poursuivîmes notre voyage par la visite de nombreuses autres villes du Vietnam qui ont chacune leur caractéristique propre. ..

Je me suis porté volontaire pour écrire ce texte afin de partager mes souvenirs avec  les membres de la famille que je n’ai pas pu rencontré ; un grand sentiment de nostalgie du pays m’envahit quand je pense au Vietnam et mon souhait est d’y retourner dès que possible.

Bản dịch:

ẤN TƯỢNG VỀ QUÊ MẸ

Tôi tên là Tú-Anh Sébatien Rozette, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1992. Tôi là con út trong gia đình. Tôi còn có chị ruột là Kim Anh Sonia, sinh viên Y khoa. Ba tôi là Marc Rozette. Mẹ là  Xuân Hồng Rozette. Mẹ tôi là con gái họ Hoàng đời 17. Như thế tôi là người mang hai dòng máu Pháp-Việt và là cháu ngoại đời thứ 18 của họ Hoàng. Gia đình chúng tôi cả bốn người hiện sinh sống ở Paris. Vào năm 2009 tôi có dịp theo gia đình về thăm đất nước Việt Nam.

Lần đầu tiên về thăm quê mẹ, biết nói sao cho hết cảm xúc của mình với đôi dòng ký ức này! Ngay khi máy bay vừa hạ cánh ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi thấy đôi mắt của mẹ tôi đã đẫm lệ. Tôi hiểu rằng đó là những giọt nước mắt dành cho quê hương và điều đó cũng có nghĩa rằng con người ta không bao giờ có thể quên được nguồn cội của mình.

Ra khỏi phi trường chúng tôi mắc phải một trận mưa ào ạt rồi lọt vào đám đông dày đặc xe máy nhấn còi inh ỏi,  lại thêm có cả một đội quân bán hàng rong đeo bám. Nhìn lên trời thấy bầu trời Sài gòn giăng đầy dây điện như mớ bòng bong. Cảnh tượng thật khác xa với bên Pháp. Buổi tối tình trạng càng náo nhiệt hơn khiến cho tôi cảm thấy mình như người bị mất hồn.

Sau đó chúng tôi đến Huế - thành phố này như một cô gái trầm lặng và hiền hòa hơn nhiều so với cô em Sài gòn của nó. Giọng Huế có nhiều âm điệu đặc biệt và đó cũng chính là giọng nói tiếng Việt của mẹ tôi. Rồi qua những cuộc tham quan các đền chùa, lăng tẫm, cung điện… tôi được biết rằng thành phố Huế là một trung tâm văn hóa của cả nước. Chúng tôi hỏi thăm bộ phận tiếp tân của khách sạn xem thử họ có biết địa chỉ của một ông chú của chúng tôi là nhà văn Hoàng Phủ NgọcTường thì hầu như ở Huế ai cũng biết ông. Té ra ông là một nhân vật rất nổi tiếng và là một nhà văn hóa có tầm cỡ. Chúng tôi đã đến thăm ông hai lần. Mặc dầu ông bị bệnh bất toại nhưng cuộc gặp gỡ nầy đã để lại cho chúng tôi những ấn tượng rất sâu sắc.

Hôm sau chúng tôi tìm đường về thăm quê ngoại. Chúng tôi về đến làng quê ở tỉnh Quảng Trị sau hai giờ xe hơi. Ở đây hỏi đường vào nhà thờ họ Hoàng thì ai cũng biết. Có một người tình nguyện ngồi lên xe chỉ đường cho chúng tôi đến tận nơi. Chúng tôi rất xúc động khi được bà con họ hàng tiếp đón niềm nỡ và đưa chúng tôi đến trước bàn thờ, giảng giải lịch sử gia đình qua từng bức ảnh trên bàn thờ và trên cây phổ hệ.

Chúng tôi còn tiếp tục du hành qua nhiều tỉnh thành khác, mỗi địa phương đều  có những nét đặc sắc khác nhau.

Hôm nay tôi xin ghi lại một vài kỷ niệm để chia sẻ tình cảm với bà con họ hàng bên ngoại, cả với những người mà tôi chưa từng quen biết. Mỗi khi nhắc đến hai tiếng Việt Nam, lòng tôi tràn đầy nỗi nhớ. Mong sao sớm có dịp trở về thăm lại quê ngoại.

TU-ANH Sébatien Rozette
Paris - 10.2011

(Lys Trang Hạ dịch từ văn bản tiếng Pháp).

Email In PDF.

THI VIẾT NGẮN

Đi mô cũng nhớ…

Nói về làng Bích Khê mình thì chuyện vui cũng nhiều mà chuyện buồn cũng không ít.

Vui là ba họ Lê-Đỗ-Hoàng xưa nay vẫn sống với nhau rất thân thương hòa ái. Cái buồn muôn thuở là chuyện bên bồi bên lở. Chuyện nầy ai cũng biết. Hằng năm cứ qua mỗi mùa bão lụt dòng nước sông Thạch Hãn đục khoét cuốn đi không biết bao nhiêu đất cát của làng Bích Khê đem bồi cho làng Trung Kiên ở bên kia sông. Chỉ trong vài thập niên, nhiều công trình kiên cố lâu đời của làng Bích Khê như lăng mộ, bãi dâu ven sông, bến đò mụ Cổ, lò vôi, cái giếng cây sanh… lần lượt bị nhận chìm mất tăm dưới nước để rồi vài mùa sau dấu tích của nó ngang nhiên tái xuất hiện ở bên kia sông. Cứ thế mỗi năm những dấu tích ấy xa dần làng Bích Khê , tiến sâu vào làng Trung Kiên. Ngày này qua tháng khác dân làng Bích ngẩn ngơ tiếc nuối nhìn theo những hình ảnh thân thương của làng mình xa dần rồi mất hút trong bãi đất bồi đã biến thành ruộng nương của người khác. Thế là mất trắng.

Tôi sinh ra và lớn lên từ làng Bích, đã cùng quê hương mình trải qua những năm tháng thanh bình cũng như những ngày chiến tranh ly loạn. Thuở ấy làng mình tuy nghèo nhưng cũng có đủ các công trình văn hóa như: đình làng, nhà làng, nhà thờ của các họ Lê- Đỗ-Hoàng, miếu tam tộc, chùa Hồng khê và nhà thờ đạo Thiên Chúa. Nhưng ấn tượng nhất đối với tôi là cái giếng cây sanh - gọi thế là vì bên cạnh giếng có một cây sanh cổ thụ sum sê tỏa bóng mát. Ban ngày các cô gái làng ra giếng gánh nước, giặt giũ. Trẻ con tắm táp nô đùa. Đêm trăng trai gái trong làng tụ tập ca hát vui vẻ. Cũng có những đôi lứa hẹn hò tâm sự lúc tối trời.

Rồi chiến tranh bùng nổ. Giặc Pháp xây một cái lô cốt trên Bèng. Trên tháp canh đặt một khẩu pháo hướng vào làng. Con đường quan (nay gọi là tỉnh lộ) bị Việt Minh đào đứt nhiều đoạn để chống xe tăng quân Pháp. Dân làng một số bỏ mình vì súng đạn, một số theo kháng chiến, một số bị bắt đi lính quốc gia. Nhưng tàn khốc nhất là cuộc đại chiến năm 1972 tại tỉnh Quảng Trị thời chống Mỹ. Cả làng hầu như không còn gì, không còn ai. Đình chùa, nhà thờ, nhà dân đều trở thành gạch vụn. Công trình duy nhất còn sót lại trên mặt đất là… cái giếng cây sanh. Sau chiến tranh, những người dân làng trở về phải nhờ cái giếng để định hướng, tìm lại những nền đất cũ. Năm 1993 có một người con dân làng Bích Khê sau nhiều năm sống tha hương, nay mới có dịp trở về tìm lại “Đường xưa lối cũ”. Đó là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Ông đứng khóc ròng trên những nền nhà thờ cũ, lội ra ruộng thăm mồ mả và sau cùng đứng tần ngần rất lâu bên bờ giếng. Phải chăng nhạc sĩ muối tìm lại âm vang của những ca khúc Gạo trắng trăng thanh, Trăng rụng xuống cầu, Những ngày thơ mộng mà ngày xưa trai gái trong làng đã từng hát với nhau trong những đêm văn nghệ  dưới bóng cây sanh?

Bây giờ, làng Bích khê đã phục hồi nguyên khí. Mọi công trình bị chiến tranh tàn phá đều đã được phục hồi, đàng hoàng to đẹp hơn.  Nhưng riêng cái giếng cây sanh của tôi thì lại biến mất. Hai cuộc chiến tranh không hủy diệt được nó. Chiếc đũa thần của đại gia Hoàng Kiều đã làm được nhiều việc lớn cho bà con làng họ nhưng  cũng không giữ lại được nó. Cả giếng lẫn cây đều đã chìm xuống đáy dòng sông Thạch Hãn bên bồi bên lở. Than ôi! Thế là giếng đã sang sông mang theo cả những đêm múc ánh trăng vàng, những ngày thơ mộng, giọng hát câu hò và biết bao kỷ niệm vui buồn của trai gái trong làng…

 Có đêm nằm mơ, tôi thấy hai cánh tay mình dài ra ôm lấy cả làng xóm quê hương mình. Rồi tôi nghe văng vẳng từ trong lòng đất  dường như có một giọng nói thì thầm, dịu ngọt: “Đi mô cũng nhớ về Bích-Triệu”.

HOÀNG HỮU CƯƠNG

Bạn đang xem Trang 1 trong 4 Trang.

 
 
 
 
  • công ty TK Mỹ thuật Anh Hoàng
  • Trường THPT Hồng Đức
  • Thời trang Bambo
  • Công ty RAAS
  • Website Mua Bán Gạch
  • Công ty CP Tống Linh Giang